Từ tháng 10, phạt 300 nghìn đồng nếu hút thuốc tại 30 điểm nổi tiếng Hà Nội

 Trong tháng 10, Hà Nội sẽ chính thức thí điểm cấm hút thuốc lá tại 30 điểm du lịch nổi tiếng. Nếu người dân, du khách vi phạm có thể bị phạt tới 300.000 đồng.

Bên lề Hội nghị triển khai mô hình du lịch không khói thuốc trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Hà Nội vừa diễn ra, bà Phạm Thị Thanh Nhàn, Trưởng Phòng y tế quận Hoàn Kiếm cho biết, trong tháng 10, sẽ có 30/190 điểm văn hoá, di tích thuộc quận Hoàn Kiếm ký cam kết, triển khai mô hình du lịch không khói thuốc.

30 địa điểm này đều là những điểm tham quan rất nổi tiếng tại Hà Nội gồm: Đền Ngọc Sơn, Đền Bà Kiệu, Chùa Quán Sứ, Chùa Bà Đá; Đình Yên Thái, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Cách mạng, Thư viện Quốc gia, Nhà hát lớn, Nhà thờ lớn, Nhà thờ Hàm Long, Nhà lưu niệm (48 Hàng Ngang), Nhà tù Hoả Lò, Nhà hát múa rối nước Thăng Long, Rạp Công nhân, Ngôi nhà di sản (phố Mã Mây), Trung tâm giao lưu phố cổ…

Từ tháng 10, phạt 300 nghìn đồng nếu hút thuốc tại 30 điểm nổi tiếng Hà Nội
Danh sách 30 điểm du lịch tại Hà Nội sẽ triển khai cấm hút thuốc lá từ tháng 10


Ngay trong tháng 10, các điểm này sẽ gắn biển “không hút thuốc lá”, “cấm hút thuốc lá”, đồng thời sẽ có người nhắc nhở và xử phạt tại chỗ nếu người dân và khách du lịch cố tình vi phạm.

Ngoài 30 địa điểm nói trên, UBND quận Hoàn Kiếm cũng đã thực hiện mô hình không khói thuốc ở 12 nhà hàng và 11 khách sạn trên địa bàn.

Trước đó, các thành phố du lịch nổi tiếng như Hạ Long, Hội An, Nha Trang cũng đã triển khai mô hình thành phố không thuốc lá.

Theo Nghị định 176/2013 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, việc hút thuốc lá tại những nơi cấm sẽ bị phạt tiền từ 100.000-300.000 đồng; nhà hàng không có chữ hoặc biểu tượng cấm hút thuốc lá bị phạt từ 3 – 5 triệu đồng; bán thuốc lá không có giấy phép sẽ bị phạt từ 15 – 20 triệu đồng và phạt 20 – 30 triệu đồng nếu tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng dưới mọi hình thức.

 

PGS.TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Khám chữa bệnh, Bộ Y tế cho biết, trên thế giới, mỗi năm có khoảng 5 triệu người tử vong do thuốc lá, con số này sẽ tăng lên trên 8 triệu người vào năm 2020. Theo dự báo, nếu không có các biện pháp phòng chống tác hại thuốc lá hiệu quả, trong thế kỷ này, thuốc lá sẽ giết chết 1 tỉ người.

Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 40.000 người tử vong vì các bệnh liên quan tới thuốc lá và 33 triệu người bị ảnh hưởng do hít khói thuốc thụ động.

Trong khói thuốc lá chứa hơn 7.000 chất. Trong đó có hàng trăm loại chất độc, 70 chất gây ung thư. Hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Ngoài ra, thuốc lá là thủ phạm gây ra ung thư miệng, tổn thương răng lợi, gây rụng tóc, đục thủy tinh thể, dễ gãy xương, bệnh tim mạch và rối loạn tình dục.

Thúy Hạnh

 

Nguồn Vietnamnet

Hai bệnh viện báo động đỏ phối hợp cứu sống bé trai ngưng tim một cách kỳ diệu

Bé trai 15 tuổi ở Cần Thơ nhập viện trong tình trạng ngưng tim, ngưng thở đã được cứu sống nhờ hai bệnh viện báo động đỏ. 

 

Sáng 2/10, Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ cho biết, vừa cấp cứu thành công cứu sống một bé trai 15 tuổi bị ngưng tim ngoài bệnh viện.

Theo đó, em Trương Đại Vỹ (15 tuổi, ngụ quận Bình Thuỷ) bị bệnh tim bẩm sinh tứ chứng Fallot đã phẫu thuật 10 năm.

Hai bệnh viện báo động đỏ phối hợp cứu sống bé trai ngưng tim một cách kỳ diệu
Bệnh nhi Vỹ được các bác sĩ Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ chăm sóc

Chiều 30/9, Vỹ đột ngột ngưng tim, ngưng thở và được người nhà đưa vào Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ trong tình trạng hôn mê, môi tím, mạch và huyết áp =0.

Bác sĩ chẩn đoán Vỹ ngưng tim ngoài bệnh viện. Các bác sĩ đã hỗ trợ hô hấp cho bệnh nhi như: thở máy, sử dụng vận mạch. Thấy bệnh nhi có chỉ định đặt máy tạo nhịp tạm thời cấp cứu nên các bác sĩ Bệnh viện Nhi đồng TP Cần Thơ  liên hệ gấp với Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ để phối hợp cấp cứu bệnh nhân.

Sau khi nhận cuộc gọi, Khoa Tim mạch Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ bố trí ê kíp đặt máy tạo nhịp và kích hoạt trong tư thế sẵn sàng.

Bệnh nhi Vỹ được chuyển đến Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ trong tình trạng hôn mê, khó tiếp xúc, mạch rất chậm, điện tâm đồ Block nhĩ thất độ III; Block 2 nhánh -hội chứng QT dài. Bệnh nhiđược tức tốc chuyển sang phòng can thiệp DSA.

Ê kíp can thiệp do bác sĩ Thân Hoàng Minh thực hiện đặt máy tạo nhịp tạm thời cho bệnh nhi, thời gian thực hiện là 30 phút.

 

Sau đặt máy tạo nhịp tạm thời, các dấu hiệu sinh tồn cải thiện, nhịp máy 80 lần/phút, huyết áp ổn định.

Hiện bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, thực hiện được các y lệnh, sinh tồn ổn định. Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi và điều trị tiếp tại Khoa Hồi sức tích cực chống độc.

Bác sĩ CKII Phạm Thanh Phong, Phó giám đốc phụ trách chuyên môn Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ cho biết, bệnh nhi ngưng tim ngoài bệnh viện được cấp cứu cứu sống cho thấy vai trò của báo động đỏ liên viện.

Theo bác sĩ Phong, khi quy trình báo động đỏ được khởi động, nhiều lằn ranh giữa các đơn vị y tế sẽ tạm dỡ bỏ, các thủ tục được đơn giản hóa, nhân viên y tế sẽ có cơ hội tiếp cận bệnh nhân trong vài phút.

“Báo động đỏ liên viện được áp dụng ở những ca đa chấn thương nguy hiểm đến tính mạng, tai biến sản khoa nghiêm trọng, các trường hợp cần sự tham gia khẩn cấp của nhiều chuyên khoa. Lực lượng chủ yếu của quy trình là các bác sĩ chuyên khoa nhiều kinh nghiệm, phẫu thuật viên giỏi. Quy trình báo động đỏ giúp hồi sinh nhiều bệnh nhân nguy kịch”, bác sĩ Phong nói.

Nguồn vietnamnet

Tưởng bệnh chàm hóa ra ung thư

ANH – Bé Casper Southhall 3 tháng tuổi đột ngột phát ban rồi mờ dần, người mẹ nghĩ con bị thủy đậu cho đến khi phát hiện vết đỏ không mất hẳn.

Mẹ bé, Emma đưa con đến bác sĩ khám, chẩn đoán Casper bị bệnh chàm, bệnh phổ biến ở trẻ sơ sinh. Bé được kê thuốc bôi steroid.

Vài ngày sau, bệnh tình cậu bé trở nên nghiêm trọng hơn. Các nốt phát ban bị viêm khiến Casper đau đớn. Lần này, bác sĩ chẩn đoán cậu mắc hội chứng mô bào (Langerhans’ Cell Histiocytosis), một dạng ung thư, do sự phát triển bất thường của mô bào. Tế bào Langerhans có trong da, các hạch bạch huyết, lá lách, tủy xương và phổi, giúp chống lại bệnh nhiễm trùng. Thế nhưng trong bệnh ung thư, sự tăng trưởng bất thường của nó gây tổn thương mô và viêm, có thể dẫn đến tử vong.”Đây là một tin khủng khiếp với tôi”, người mẹ nói.

Tháng 8/2018, cậu bé bắt đầu liệu trình hóa trị. Tuy nhiên các tổn thương đã ảnh hưởng đến tế bào khỏe mạnh của Casper và ngăn hệ miễn dịch hoạt động bình thường. Phương pháp hóa trị không hiệu quả với cậu bé.

Khi liệu trình điều trị kéo dài ba tháng kết thúc, sức khỏe của Casper vẫn không có dấu hiệu cải thiện. Cậu bé được bác sĩ cho dùng một loại thuốc đang được thử nghiệm lâm sàng là Dabrafenib, có tác dụng ức chế tăng trưởng ung thư phát triển. Cậu được chỉ định dùng thuốc này hai lần mỗi ngày. Sau một tuần, các vết đỏ phát ban biến mất hoàn toàn và xét nghiệm máu cho thấy các tế bào ung thư đã ngừng hoạt động.

Các bác sĩ cho biết căn bệnh của cậu bé chưa khỏi hoàn toàn mà vẫn có thể quay trở lại. Hiện bé được bác sĩ theo dõi sức khỏe thường xuyên, thăm khám định kỳ.

Theo Vnexpress.

Vô tình tìm ra cơ chế vô hiệu hóa HIV

NGAKhi nghiên cứu chất điều trị ung thư, nhóm nhà khoa học vô tình xác định được cơ chế vô hiệu hóa virus HIV bằng hợp chất polysulfur dị vòng.

Ban đầu, nhóm nhà khoa học Nga, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ và Phần Lan phát triển các dị vòng polysulfur để điều trị bệnh ung thư. “Không ngờ các hợp chất này hoạt tính cao và có khả năng chống lại virus gây suy giảm miễn dịch ở mèo, tương tự với virus gây suy giảm miễn dịch ở người”, Rak Rakitin, tiến sĩ hóa học, giáo sư của Đại học South Ural – thành viên nhóm nghiên cứu, nói.

HIV là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), khiến sức đề kháng bị tê liệt, bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng dẫn đến tử vong. Hiện chưa có phương pháp nào loại trừ hoàn toàn HIV.

Theo nhóm nghiên cứu, phát hiện mới giúp vô hiệu hóa virus HIV bằng cách lấy đi nguyên tử kẽm từ các phân tử virus HIV. Trong quá trình thực hiện, các nhà khoa học cũng phát hiện các hợp chất có khả năng chống virus mạnh nhưng không gây hại cho những tế bào khỏe mạnh trong cơ thể.

Đại học South Ural (SUSU) ra thông cáo, hy vọng phát hiện này mở đường cho một nhóm thuốc kháng virus mới có thể được sử dụng cho nhiều bệnh.

Năm 2018, thế giới có 37,9 triệu người sống chung với AIDS. Khoảng 23,3 triệu người trong số này đã được điều trị bằng liệu pháp kháng virus. Số ca nhiễm HIV mới giảm 40% kể từ năm 1997.

Nguồn Vnexpress.

Trở thành ngôi sao phim kinh dị nhờ mắc bệnh lạ

Rối loạn di truyền hiếm gặp khiến nam diễn viên Javier Botet (Tây Ban Nha) 41 tuổi cao 2 m và chỉ nặng 56 kg.

Javier Botet được chẩn đoán mắc hội chứng Marfan khi 6 tuổi, là một dạng rối loạn di truyền ảnh hưởng đến mô liên kết. Mô liên kết làm nhiệm vụ kết nối cơ quan và các cấu trúc khác trong cơ thể đồng thời hỗ trợ phát triển.

Javier Botet cao 2 m, nặng 56 kg. Ảnh: jbotet.

Javier Botet cao 2 m, nặng 56 kg. Ảnh: jbotet.

Bệnh nhân Marfan thường rất cao nhưng gầy, khớp lỏng lẻo, bàn chân lớn và phẳng, các ngón tay dài không cân đối. Bệnh nặng có thể đe dọa đến tính mạng.

Tỷ lệ người mắc hội chứng Marfan là một trên 5.000, bao gồm cả phụ nữ lẫn đàn ông thuộc mọi chủng tộc. Khoảng ba phần tư người bệnh thừa hưởng gene đột biến từ cha mẹ.

Hội chứng Marfan khiến Botet cao vượt trội nhưng rất gầy. Ảnh: jbotet.

Hội chứng Marfan khiến Botet cao vượt trội nhưng rất gầy. Ảnh: jbotet.

Botet cho biết từ nhỏ đã có niềm đam mê mãnh liệt với các nhân vật kinh dị và thường vẽ chúng ra giấy. Trưởng thành, Botet bắt tay vào sản xuất các bộ phim kinh dị ngắn. Năm 2007, được nhiều người góp ý, anh quyết định sử dụng ngoại hình đặc biệt của mình để tham gia diễn xuất.

Do hội chứng Marfan, Botet chỉ cần một chút hóa trang là có thể hóa thân vào các nhân vật kinh dị. Anh trở thành ngôi sao của hàng loạt bộ phim kinh dị Hollywood như Slender Man, Alien: Covenant, The Conjuring 2, Insidious: The Last Key, Mama. 

“Tôi nghĩ mình sinh ra để trở thành diễn viên”, Botet nói. 

Botet trong bộ phim The Conjuring 2. Ảnh: jbotet.

Botet trong bộ phim The Conjuring 2. Ảnh: jbotet.

Botet không sợ công nghệ kỹ xảo đe dọa công việc của mình, tin rằng người xem phim kinh dị sẽ chẳng còn sợ hãi nếu nhà sản xuất lạm dụng kỹ xảo. Những nhân vật do anh trực tiếp thủ vai mang lại cảm giác sống động gấp 100 lần.

Hiện tại, ngoài việc đóng vai trong các tác phẩm kinh dị, Botet còn tham gia phim hài và tự sản xuất phim.

Cre Đăng Như (Theo Bored Panda)

Lửa bùng cháy trên bàn mổ ngực bệnh nhân ở Australia

Lượng oxy tăng cao kết hợp với tia lửa từ máy đốt điện trong khi phẫu thuật dẫn đến hỏa hoạn, đội ngũ y tế nhanh chóng kiểm soát được.

Ngày 2/6, bác sĩ Ruth Shaylor từ khoa Gây mê và Giảm đau Bệnh viện Austin ở Melbourne (Australia) báo cáo về sự cố hỏa hoạn hy hữu trên bàn mổ. 

Trước đó bệnh nhân 60 tuổi được phẫu thuật cấp cứu do bị bóc tách động mạch chủ – hiện tượng xảy ra khi lớp trong của động mạch bị rách khiến hai lớp động mạch tách khỏi nhau. Ông từng được chẩn đoán tắc nghẽn phổi mạn tính (COPD). 

Trong khi phẫu thuật, đội ngũ y tế phát hiện phổi phải của bệnh nhân bị vướng vào xương ức, một số mô phổi căng phồng. Rất cẩn thận khi mở khoanh ngực bệnh nhân, các bác sĩ phẫu thuật vẫn vô tình chạm vào một mô phổi, khiến không khí từ phổi người đàn ông tràn ra ngoài. 

Để ngăn ngừa các vấn đề hô hấp, kíp mổ nhanh chóng bổ sung oxy cho bệnh nhân đồng thời dùng máy đốt điện để cầm máu. Lúc này, tia lửa phát ra từ thiết bị đốt điện bắt sang túi gạc khô, gây cháy.

May mắn, hỏa hoạn nhanh chóng được dập tắt bằng nước muối, bệnh nhân không bị thương tích do lửa. Ca phẫu thuật tiếp tục và kết thúc sau đó mà không có sự cố nào khác xảy ra.

Theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ, mặc dù hiếm gặp, hỏa hoạn trong khi phẫu thuật vẫn có thể xảy ra. Có ba yếu tố làm tăng nguy cơ hỏa hoạn khi phẫu thuật bao gồm: nguồn oxy bổ sung, nguồn đánh lửa (ví dụ thiết bị đốt điện) và nguồn chất đốt (ví dụ gạc phẫu thuật hoặc tóc, da bệnh nhân).

Trường hợp bệnh nhân Australia này sẽ được trình bày kỹ hơn trong tuần này tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội Gây mê Châu Âu diễn ra ở Vienna (Áo). Bác sĩ Ruth Shaylor nhận định sự cố cho thấy y bác sĩ cần được huấn luyện đối phó và phòng chống cháy nổ. Đặc biệt, đội ngũ y tế cần lưu ý rằng trong một số hoàn cảnh phẫu thuật, nồng độ oxy và nguồn nhiệt tăng sẽ kéo theo nguy cơ hỏa hoạn.

Theo Eurekalert

Phong trào chống vaccine khiến dịch sởi bùng phát ở Mỹ

Sau 19 năm vắng bóng, dịch sởi đã tái xuất tại Mỹ, chủ yếu tại những cộng đồng dân cư không tiêm vaccine và được miễn tiêm vì lý do tôn giáo hoặc cá nhân. Mới đây, quận Rockland thuộc tiểu bang New York (Mỹ) đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp sau khi dịch sởi bùng phát nghiêm trọng.

Thông báo này được đưa ra ngày 26-3 sau khi quận Rockland ghi nhận 153 ca bệnh sởi từ tháng 10-2018 đến nay. Giới chức quận Rockland cũng yêu cầu mọi trẻ em từ 6 tuổi trở xuống chưa tiêm phòng không được đến những nơi công cộng, trừ các trường hợp có lý do y tế. Theo giới chức New York, lệnh cấm được duy trì trong vòng 30 ngày hoặc cho đến khi toàn bộ những người dưới 18 tuổi được tiêm phòng sởi, quai bị và rubella. Việc vi phạm lệnh cấm sẽ bị phạt 500 USD và tối đa 6 tháng tù. Động thái này là một trong những bước đi mới được các quan chức Mỹ đưa ra sau khi dịch bệnh bùng phát tại một số khu vực do phong trào chống vaccine, đặc biệt là ở các bang Washington, California, Texas và Illinois.

Bệnh sởi từng mỗi năm cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người và chính thức bị xóa sổ tại Mỹ vào năm 2000. Nhưng nay, sởi đã quay trở lại một cách nguy hiểm. Cơ quan phòng chống dịch bệnh Mỹ cho biết, tính từ tháng 1 đến nay, trên khắp nước này đã ghi nhận 314 ca mắc sởi tại 15 bang. Trong năm 2018, có tổng cộng 372 ca mắc sởi, cao gấp 3 lần so với năm 2017. Nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng bùng phát dịch sởi là do nhiều phụ huynh ở Mỹ từ chối tiêm vaccine cho trẻ vì nhiều lý do như niềm tin tôn giáo hoặc lo ngại vắc xin phòng sởi có thể gây ra tình trạng tự kỷ ở trẻ em. Những người chống lại tiêm chủng thậm chí đã khiến nhiều thành phố ở Mỹ không tiêm vắc xin cho trẻ. Có tới 18 bang ở Mỹ cho phép cha mẹ không cho con tiêm chủng khiến hàng trăm trẻ tuổi mẫu giáo ở những nơi này không được tiêm phòng. Do đó, bệnh sởi đã từ những khu vực này lây lan nhanh chóng.

Giám đốc Trung tâm quốc gia về miễn dịch và các bệnh hô hấp Mỹ, Nancy Messonnier cho biết hiện có rất nhiều người do dự với việc tiêm vaccine. Cách đây 15 năm, có tới 95% học sinh 5 tuổi tại hạt Clark được tiêm vaccine phòng sởi. Thế nhưng đến năm học 2017-2018, tỷ lệ này đã giảm xuống 84%. Đáng lo ngại hơn, ở một số trường học, đặc biệt là trường tư, tỷ lệ tiêm vaccine vô cùng thấp, chỉ khoảng 20-30%. Giới chuyên gia cho rằng tin đồn thất thiệt về vắc xin là một yếu tố khiến nhiều người do dự tiêm chủng, đồng thời cho rằng việc các mạng xã hội đăng tải nhiều thông tin sai sự thật về các nguy cơ của việc tiêm phòng đã tác động lớn đến quyết định của các bậc cha mẹ. Tuy nhiên, gần đây, trước sức ép của Quốc hội Mỹ, mạng xã hội Facebook, YouTube và Pinterest đã công bố nhiều biện pháp chặn các nội dung bài trừ vaccine.

Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cho biết, dịch sởi bùng phát ở nhiều nước đang tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với trẻ em và cần nhiều nỗ lực cải thiện mức độ bao phủ tiêm chủng tại các quốc gia trên thế giới để kiểm soát và bài trừ dịch bệnh nguy hiểm này.

 

Theo HNM

Lý do nhiều sinh viên Việt sang Đức học cao đẳng nghề điều dưỡng

Miễn học phí một tỷ đồng, du học hưởng lương, ra trường có việc luôn, cơ hội định cư cao… là lý do ngành điều dưỡng tại Đức thu hút sinh viên Việt Nam.

Miễn học phí

Nước Đức nổi tiếng với nhiều chính sách thu hút nhân lực và sinh viên quốc tế. Nếu học phí cao đẳng nghề điều dưỡng ở Nhật thấp nhất cũng tiêu tốn 610.000 yên mỗi năm (122 triệu đồng), thì Đức miễn phí hoàn toàn. Sinh viên được tài trợ 100% học phí và giáo trình trị giá hơn một tỷ đồng.

Đặc biệt, du học sinh còn có thể săn thêm 3 suất học bổng toàn phần và 15 suất học bổng ưu đãi cho học sinh THPT loại giỏi và sinh viên ngành điều dưỡng, y tá từ Viện Đào tạo Intereducation, hạn nộp từ nay đến ngày 15/6

Thời gian học ngắn

Cao đẳng nghề điều dưỡng tại Đức thường kéo dài 3 năm. Nếu tham gia chương trình “IE-3: Du học nghề điều dưỡng tại CHLB Đức” của Viện Đào tạo InterEducation, sinh viên sẽ được đào tạo kép trong 3 năm để nhanh chóng tốt nghiệp đi làm. Với sinh viên Việt đã học hệ cao đẳng điều dưỡng trong nước, thời gian có thể rút ngắn còn 2 năm. Khi tích lũy đủ kinh nghiệm và thâm niên, không ít người đã học liên thông 1,5 năm lên cử nhân đại học để thăng tiến làm quản lý.

 
Nghề điều dưỡng tại Đức nhận được nhiều hỗ trợ từ công nghệ và nền y tế hiện đại.

Nghề điều dưỡng tại Đức nhận được nhiều hỗ trợ từ công nghệ và nền y tế hiện đại.

Du học hưởng lương

Chương trình IE-3 giảng dạy 40% lý thuyết và 60% thực hành. Song song với việc học kiến thức trên lớp, mỗi tháng, sinh viên sẽ thực hành tại viện dưỡng lão 12-15 buổi (8 tiếng/buổi) và hưởng lương 850-1.100 Euro (22-29 triệu đồng) ngay từ ngày học đầu tiên.

So với các chương trình học nghề khác tại Đức, mức lương thực tập ngành điều dưỡng xếp hạng cao nhất. Số tiền này giúp bạn dễ dàng chi trả nhu cầu ăn ở, sinh hoạt. Ngoài ra, thời gian rảnh cuối tuần, sinh viên được phép làm thêm với thu nhập 8-12 Euro/giờ.

Ra trường có việc ngay

Đức thiếu trầm trọng nhân lực ngành điều dưỡng. Mỗi năm, lượng sinh viên Đức ứng tuyển chỉ đáp ứng 45% nhu cầu nước này. Do đó, chính phủ khuyến khích sinh viên nước ngoài ở lại làm việc, ký hợp đồng dài hạn và trả lương thưởng công bằng như người bản xứ.

Sinh viên ra trường được ở lại Đức 18 tháng để tìm việc, song gần như 100% chưa tốt nghiệp đã nhận được việc làm ngay. Lương tối thiểu đạt 2.300-2.700 Euro/tháng (60-73 triệu đồng), tăng theo năng lực và thâm niên làm việc. Sau khi trừ đi sinh hoạt phí trung bình 700 Euro/tháng, bạn có thể tích cóp được hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Cơ hội định cư tại Đức

Với 20% dân số già và tỷ lệ sinh ít, Đức khá cởi mở trong việc cấp định cư. Sau 3 năm học và 2 năm làm việc đúng chuyên ngành tại Đức, du học sinh có thể nộp đơn xin định cư vĩnh viễn tại Đức. Có quyền lưu trú vĩnh viễn tại Đức cũng đồng nghĩa với quyền bảo lãnh người thân (vợ, chồng, con cái) qua Đức theo điều khoản trong luật đoàn tụ. Khí hậu ôn đới đại dương mát mẻ và ôn hòa, hiếm khi có thiên tai, chính là nơi an cư lạc nghiệp lý tưởng của nhiều người.

Yêu cầu tuyển sinh đơn giản

Theo đại diện Viện Đào tạo InterEducation, yêu cầu tuyển sinh cao đẳng nghề điều dưỡng tại Đức khá đơn giản. Chỉ cần tốt nghiệp THPT hoặc trung cấp/ cao đẳng ngành điều dưỡng, y tá, không cần chứng minh tài chính. Sinh viên sẽ học tiếng Đức trình độ B2 để làm thủ tục xin visa du học và làm việc, và sẽ được Nhà tuyển dụng đứng ra bảo lãnh thủ tục visa.

Lý do nhiều sinh viên Việt sang Đức học cao đẳng nghề điều dưỡng - 1

Viện Đào tạo InterEducation hợp tác cùng Viện dưỡng lão Brandenburg tuyển sinh cao đẳng nghề điều dưỡng tại Đức.

Tiếng Đức dễ học

Ngoại ngữ là rào cản lớn đối với nhiều du học sinh. Tuy nhiên, so với các loại ngôn ngữ tượng hình (Nhật, Trung, Hàn), người Việt dễ tiếp thu tiếng Đức hơn. Tiếng Đức sử dụng bộ chữ cái latin khá giống với bộ ký tự alphabet tiếng Việt. Ngoài ra, người dân nước này cũng dùng tiếng Anh phổ biến hơn.

Hưởng đãi ngộ như người bản xứ

Cuộc sống tại Đức yên bình với các phúc lợi xã hội cao, an ninh đảm bảo. Dù đi học hay đi làm, du học sinh Việt cũng được hưởng chính sách an sinh xã hội (y tế, bảo hiểm, giáo dục…) như người bản xứ. Ở Đức, mọi người được quyền tự do nói lên suy nghĩ bản thân, đối xử bình đẳng, không phân biệt bạn đến từ đâu, mà chỉ coi trọng con người và năng lực cá nhân.

Cơ hội du lịch và làm việc khắp châu Âu

Chương trình IE-3 do Viện Đào tạo InterEducation phối hợp với Tập đoàn Diakonie, CURA, CMS… của Đức. Sau khi tốt nghiệp, sinh viên được cấp bằng tốt nghiệp cho phép làm việc khắp châu Âu. Ngoài ra, bạn cũng có thể tự do du lịch sang 26 nước khác trong khối EU mà không cần xuất trình visa. Đức được mệnh danh là trái tim nằm chính giữa châu Âu, giáp với 9 quốc gia, nên du học sinh nào ở đây cũng tận dụng cơ hội du lịch tới những thành phố nổi tiếng như Paris, Rom, Vienna, Praha…

Theo : vnexpress

 
 
 

Phẫu thuật robot: quá khứ, hiện tại và tương lai

Kính thưa quý vị độc giả, trước khi đi vào bài viết, chúng tôi – những phẫu thuật viên trẻ của đất nước Việt Nam – mong muốn quý vị độc giả nhận thức rằng trí tuệ con người là siêu việt và máy móc là sản phẩm được ra đời từ những khối óc tài hoa ấy. Chúng ta không thể lập trình để robot tự động điều khiển ca phẫu thuật vì mỗi con người là một phức hợp đa dạng và mỗi một ca phẫu thuật sẽ diễn tiến theo nhiều tình huống khác nhau mà robot không thể thay thế trí óc của con người để đưa ra phương án xử lý thích hợp. Chính con người nắm toàn quyền chủ động và đưa ra mệnh lệnh cho robot thực hiện các động tác, nhiệm vụ và cách thức theo ý muốn của con người.

Lịch sử

Lịch sử của phẫu thuật ngoại khoa đã trải qua hơn 2000 ngàn năm bắt đầu từ ca phẫu thuật đầu tiên của Sushruta thuở sơ khai, cho đến các ca phẫu thuật thời trung đại của Andreas Vesalius, Ambroise Paré.. và rồi đến John Hunter, phẫu thuật viên người Scotland, đặt nền móng đầu tiên cho phẫu thuật hiện đại [1]. Trải qua những thăng trầm rồi cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, phẫu thuật viên người Pháp Philippe Mouret đã thực hiện ca phẫu thuật nội soi (PTNS) đầu tiên trên thế giới cắt túi mật cho một phụ nữ trung niên ngày 17 tháng 3 năm 1987 [4]. Đây là cuộc cách mạng thật sự trong chuyên ngành phẫu thuật, tạo tiền đề cho sự phát triển hàng loạt các kĩ thuật mổ chuyên sâu khác dựa trên nền tảng của phẫu thuật nội soi. Đây cũng là phát pháo mở đầu cho thời kì của “phẫu thuật xâm lấn tối thiểu” phát triển. Nếu như mổ mở thông thường người bệnh phải chịu một đường mổ dài, đi kèm với đau đớn và thời gian hồi phục kéo dài thì PTNS chỉ sử dụng những vết mổ nhỏ từ 5-10mm để đưa các dụng cụ phẫu thuật có đường kính tương đương vào cơ thể. Sau đó sử dụng nước hay khí CO2 bơm vào vùng cơ thể cần phẫu thuật để tạo khoang ảo cho phẫu thuật viên thao tác.

Trên bánh xe không ngừng chuyển động của khoa học, phẫu thuật robot ra đời cùng với sự phát triển của y học hiện đại. Y văn ghi nhận trường hợp đầu tiên có sử dụng robot hỗ trợ là vào năm 1985 cho một trường hợp sinh thiết khối u não [6]. Ba năm sau, ca phẫu thuật cắt tiền liệt tuyến qua hệ thống phẫu thuật robot THE PROBOT được thực hiện thành công tại đại học Imperial College London [2]. Trải qua các giai đoạn phát triển từ các hệ thống robot sơ khai ban đầu như PUMA, AESOP, ZEUS, ngày nay hệ thống phẫu thuật robot DaVinci được xem là hiện đại nhất hiện nay với 4 cánh tay robot mô phỏng  gần như hoàn hảo các động tác của bàn tay con người.

Về nguyên lý, phẫu thuật robot vẫn dựa trên nền tảng phẫu thuật nội soi: phẫu thuật viên sẽ tạo các đường mổ nhỏ từ 5-10mm trên cơ thể để đưa dụng cụ nội soi vào thao tác. Nếu như ở phẫu thuật nội soi truyền thống, phẫu thuật viên là người trực tiếp sử dụng các dụng cụ phẫu thuật nội soi thì với phẫu thuật robot, các cánh tay của hệ thống robot sẽ hoạt động như bàn tay của phẫu thuật viên sử dụng các dụng cụ phẫu thuật để thao tác trong cơ thể. Từ trạm điều khiển cách xa bàn mổ, các phẫu thuật viên sẽ điều khiển cánh tay robot quay 540 độ, di chuyển tự do trong không gian hẹp và thực hiện các động tác phẫu thuật tinh vi. Nhờ những đặc tính kể trên mà phẫu thuật robot sẽ giúp khắc phục các nhược điểm của bàn tay con người như: cảm giác mỏi do thao tác trong nhiều giờ, giới hạn xoay của các khớp bàn tay khớp cổ tay trong các thao tác phẫu thuật phức tạp, thao tác ở vị trí sâu khó tiếp cận, tăng khả năng quan sát với màn hình 3D kèm khả năng phóng đại cao. Bên cạnh đó so với phương pháp mổ mở truyền thống, phẫu thuật nội soi và phẫu thuật robot được chứng minh là giúp bệnh nhân hồi phục nhanh chóng do vết mổ nhỏ, sẹo mổ thẩm mỹ, ít đau, ít chảy máu và ít biến chứng nhiễm trùng [7]. 

Hiện tại

Về mặt bệnh lý, gần như tất cả các loại bệnh trước đây có thể ứng dụng phẫu thuật nội soi thì ngày nay phẫu thuật robot đều có thể thực hiện như phẫu thuật tai mũi họng, phẫu thuật thần kinh, phẫu thuật phụ khoa, phẫu thuật tiêu hoá – gan mật.. trên bệnh nhân là người lớn và cả trẻ em. Năm 2000, đại học Ohio đã đưa phẫu thuật robot vào ứng dụng phẫu thuật thực quản và phẫu thuật tuỵ, là 2 loại phẫu thuật khó trong phẫu thuật tiêu hoá – gan mật. Năm 2008, nhóm nghiên cứu đại học Illinois đã thực hiện ca cắt gan từ người cho sống đầu tiên qua hệ thống phẫu thuật robot với kết qua thu nhận rất khả quan. Với chuyên ngành phẫu thuật lồng ngực mạch máu, các phẫu thuật như bắc cầu mạch vành, thay van 2 lá, cắt thực quản, cắt phổi mà trước đây chỉ thực hiện qua mổ mở và phẫu thuật nội soi thì nay đã được phẫu thuật robot thực hiện. Bên cạnh đó, phẫu thuật thần kinh sọ não là lĩnh vực mà phẫu thuật robot thể hiện rõ rệt tính ưu việt trong việc vượt qua giới hạn sự khéo léo của bàn tay con người cũng như khả năng thao tác trong tầm nhìn vi thể. Một nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ sống 5 năm sau phẫu thuật triệt để u thần kinh đệm là 40%, trong khi tỉ lệ này là 22% đối với các trường hợp chỉ phẫu thuật loại bỏ 95% u [6]. Qua đó cho thấy được tầm quan trọng của phẫu thuật robot trong việc vượt qua các giới hạn của con người để nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân. Lĩnh vực nhãn khoa cũng ghi nhận ca phẫu thuật robot đầu tiên vào tháng 9 năm 2016 tại bệnh viện John Radcliffe đại học Oxford. Giáo sư MacLaren đã điều khiển hệ thống robot để xử lý một bộ phận có kích thước nhỏ hơn 100 lần của 1 milimetre trên võng mạc của một bệnh nhân 70 tuổi. Sự chậm trễ trong việc ứng dụng phẫu thuật robot vào lĩnh vực nhãn khoa là do các nhà nghiên cứu phải tìm cách để thu nhỏ các bộ phận của robot cho phù hợp với môi trường nhỏ hẹp của mắt [3].

Ca phẫu thuật robot đầu tiên trong lĩnh vực Nhãn khoa (Ảnh: itv)

Tương lai

Phẫu thuật robot đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi và phát triển mạnh mẽ theo nhiều hướng khác nhau. Nếu như trước đây phẫu thuật robot tập trung điều trị các bệnh lý lồng ngực, ổ bụng và các chi, thì gần đây các nhà nghiên cứu của Đại học Illinois (Hoa Kỳ) đã phát triển hệ thống phẫu thuật robot điều trị các ung thư vùng đầu mặt cổ tiếp cận thông qua đường miệng. Không những thế các nhà khoa học cũng đang cố gắng triển khai phẫu thuật robot từ xa: phẫu thuật viên có thể ở bất kì nơi nào trên thế giới và điều khiển hệ thống phẫu thuật robot từ xa. Ngoài ra ý tưởng về việc thu nhỏ hệ thống robot cũng đang được triển khai nhằm ứng dụng trong việc điều trị các bệnh lý về máu: các nano robot với kích thước vi thể được đưa vào trong lòng mạch máu để tìm và diệt các tế bào máu bất thường [5].

Bên cạnh phát triển, người ta còn tìm cách khắc phục các nhược điểm hiện tại của phẫu thuật robot. Vì tiếp xúc trực tiếp với các mô cơ quan trong cơ thể người bệnh là các cánh tay robot và gián tiếp thông qua các dụng cụ phẫu thuật nên khả năng cảm nhận trực tiếp của phẫu thuật viên về nhiệt độ, áp lực, độ căng, mật độ mềm cứng,.. rất giới hạn. Chính vì lý do đó mà thế hệ robot mới được phát triển với mục đích truyền đạt các thông số trên cho phẫu thuật viên thông qua hệ thống cảm biến phản hồi theo thời gian thực (real time sensory feedback) để tăng khả năng tương tác giữa phẫu thuật viên và cơ thể người bệnh [6].

Ý tưởng về nano robot đưa vào trong lòng mạch máu (Ảnh: Internet)

Lời kết    

Y học hiện đại ngày một phát triển cùng với sự tư duy sáng tạo không ngừng nghỉ của con người và phẫu thuật robot là một trong muôn vàn những điểm sáng đó. Sự ra đời, phát triển và hoàn thiện của phẫu thuật robot giúp cho chuyên ngành phẫu thuật vượt qua những khó khăn rào cản tồn tại hằng trăm năm trước. Chúng ta có quyền hy vọng vào một tương lai sớm con người có thể vững vàng chế ngự được bệnh tật, để mọi nỗi đau về thể xác và tinh thần không còn hiện diện trên trái đất này.

Tác giả: Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Hải Nam (Giảng viên Bộ môn Ngoại Đại học Y Dược TP. HCM, Khoa Ngoại Gan Mật Tuỵ Bệnh viện Chợ Rẫy)

Tài liệu tham khảo:

1. Courtney Townsend, R. Daniel Beauchamp, B. Mark Evers, và Kenneth Mattox (2012), Sabiston textbook of surgery : the biological basis of modern surgical practice, PA: Elsevier Saunders: Philadelphia. tr. 2-18.

2. Anthony R. Lanfranco, Andres E. Castellanos, Jaydev P. Desai, và William C. Meyers (2004), Robotic Surgery: A Current Perspective, Annals of Surgery, số 239(1), tr. 14-21.

3. Robert MacLaren. World first for robot eye operation. [Last accessed on 2016 Sep 12]. Available from:,  http://www.ox.ac.uk/news/2016-09-12-world-first-robot-eye-operation.

4. Alexandros Polychronidis, Prodromos Laftsidis, Anastasios Bounovas, và Constantinos Simopoulos (2008), Twenty Years of Laparoscopic Cholecystectomy: Philippe Mouret—March 17, 1987, JSLS : Journal of the Society of Laparoendoscopic Surgeons, số 12(1), tr. 109-111.

5. Yamaan Saadeh và Dinesh Vyas (2014), Nanorobotic Applications in Medicine: Current Proposals and Designs, American journal of robotic surgery, số 1(1), tr. 4-11.

6. Jay Shah, Arpita Vyas, và Dinesh Vyas (2014), The History of Robotics in Surgical Specialties, American journal of robotic surgery, số 1(1), tr. 12-20.

7. Jianmin Xu và Xinyu Qin (2016), Expert consensus on robotic surgery for colorectal cancer (2015 edition), Chinese Journal of Cancer, số 35(1), tr. 23.

KHÁNG SINH PENICILLIN & QUẢ BOM Y ĐỨC

Ngày 1-10   TT Barack Obama (Hoa Kỳ) đã gọi điện cho Tổng Thống Alvaro Colom của Guatemala (Trung Mỹ) đưa ra lời xin lỗi về một thí nghiệm sinh học xảy ra cách đây hơn 60 năm. Đó là thí nghiệm khả năng tiêu diệt vi khuẩn lây qua đường tình dục của Penicillin một loại kháng sinh mới phát minh thời đó (1946). Thí nghiệm (1946-1948) diễn ra bằng cách truyền bệnh lậu mủ, giang mai, hạ cam mềm cho khoảng 1600 người dân Guatemala và điều trị bằng Penicillin mà họ không hay biết. Đây quả là một quả bom y đức trong nền y học thế giới.

 

 

VÌ SAO PENICILLIN ĐƯỢC CHỌN LÀM THÍ NGHIỆM?
Bệnh nhiễm khuẩn luôn là mối lo của con người. Năm 1929, nhà sinh vật học  Alexander Fleming đang nuôi cấy vi khuẩn Staphylococus trong môi trường thạch để chúng phát triển. Mùa hè Luân đôn nóng oi bức khiến các cửa sổ phòng thí nghiệm được mở rộng. Và rồi ngọn gió vô tình mang theo những hạt bụi rơi vào môi trường cấy. Sau đó quan sát trên kính hiển vi, nhà bác học Fleming đã ngạc nhiên thấy có những nấm mốc mọc trên thạch và điều ngạc nhiên hơn nữa là chung quanh nơi nấm mọc, vi khuẩn đã bị tiêu diệt, một vòng trắng trong hiện ra chung quanh nấm mốc. Ông tự hỏi phải chăng nấm này đã sản xuất ra được một chất chống lại sự sống của vi khuẩn ?

Sau nhiều lần thử nghiệm, ông đã nuôi cấy được nấm Penicillin notatum có khả năng tiêu diệt được nhiều loại vi trùng gây bệnh. Và tên kháng sinh (antibiotic phát xuất từ tiếng la tinh anti = chống lại, bios = sự sống) ra đời. Năm 1940, kết quả thử nghiệm trị các bệnh nhiễm trùng trên súc vật được công bố. Năm 1941, cùng với Chain và Florey, kháng sinh liệu pháp chống các bệnh nhiễm trùng trên người chính thức ra đời và mang lại giải Nobel Y học cho cả ba nhà bác học trên vào năm  1945. Công nghiệp điều chế thuốc kháng sinh bắt đầu phát triển. 


THỬ NGHIỆM BỊ PHANH PHUI SAU 64 NĂM

  • Tháng 6.2010 nhà nghiên cứu Susan Reverby, Giáo sư của Đại học Wellesley (bang Massachusetts) đã đem vụ thử nghiệm này ra ánh sáng trong một tập nghiên cứu khiến giới chức y tế Hoa Kỳ mở ngay cuộc điều tra.

Từ năm 1946 đến năm 1948, Mỹ đã tiến hành thử nghiệm dùng kháng sinh Penicillin điều trị các bệnh đường tình dục trên người dân Guatemala. Nghiên cứu được sự cho phép của chính quyền. Đối tượng được chọn làm thí nghiệm là binh sĩ, tù nhân, bệnh nhân tâm thần bị cho quan hệ tình dục với gái bán hoa nhiễm bệnh sau đó còn bị tiêm thẳng vi khuẩn gây bệnh hoa liễu vào người. Theo CNN thì có 696 người mắc giang mai, 772 bị lậu, 140 người nhiễm hạ cam. và cuộc nghiên cứu bị ém đi sau khi không đạt được kết quả cụ thể.
Bên cạnh đó, bác sĩ Cutler-người tiến hành thử nghiệm-đã qua đời năm 2003 ở tuổi 87, cũng còn tham gia một nghiên cứu phi nhân khác tại thành phố Tuskegee, bang Alabama, Mỹ. Trong suốt 40 năm, từ năm 1932, các bác sĩ Mỹ theo dõi diễn biến tình hình sức khỏe của khoảng 400 người Mỹ da đen bị gây nhiễm giang mai mà không hề cho họ biết hay chữa trị gì cả. Hậu quả là khoảng 200 người thiệt mạng và hàng chục người bị lây nhiễm. Sau khi sự việc được đưa ra ánh sáng, chính quyền phải ra nhiều đạo luật siết chặt hoạt động nghiên cứu có đối tượng là con người.


LỜI XIN LỖI MUỘN MÀNG

   Ngày thứ Sáu (1 tháng 10, 2010), Ngoại trưởng Hillary Clinton và Bộ trưởng Y tế Katthleen Sebelius đã xin lỗi chính quyền Guatemala cùng những người sống sót và hậu duệ những người đã bị nhiễm bệnh. Theo họ, những cuộc thử nghiệm này “rõ ràng là trái đạo lý”. Tuyên bố của hai vị Bộ Trưởng nêu lên: “. “Mặc đầu những sự việc này đã xảy ra trên 64 năm trước, chúng tôi phẫn nộ về việc nghiên cứu đáng trách như thế đã xảy ra dưới sự chỉ dẫn của cơ quan trách nhiệm về y tế công cộng. Chúng tôi rất lấy làm tiếc rằng chuyện như vậy đã xảy ra, và chúng tôi xin lỗi tất cả những cá nhân đã bị ảnh hưởng bởi những cuộc nghiên cứu ghê tởm ấy.”