Lưu ý khi dùng nước thanh nhiệt từ cây cỏ

Thật khó có thể kể hết các loại nước giải khát mang tính công nghiệp trên thị trường hiện nay, nhưng xu hướng lựa chọn và tự chế biến nước uống giải nhiệt từ những cây cỏ theo kinh nghiệm dân gian lại được ưa chuộng

Các loại nước như nước trà xanh, nước nụ hoặc lá vối, nước nhân trần, nước la hán, nước chó đẻ răng cưa, nước rau má, nước chè vằng, nước mía, nước cỏ ngọt, nước râu ngô, nước cúc hoa, nước hoa hòe, nước quả dứa dại, nước mạch môn, nước đậu đen sao cháy, nước khổ qua, nước bí đao… là thức uống bổ dưỡng trong mùa hè, rất tốt với những người có thể chất “thiên nhiệt”.

Lưu ý khi dùng nước thanh nhiệt từ cây cỏ - 1

Hoa cúc tươi nấu nước uống hoặc phơi sấy khô, nên bảo quản cẩn thận.

Người ta có thể dùng độc vị hoặc có thể dùng một vài vị phối hợp với nhau để tạo nên những thứ nước giải khát thơm ngon, dễ uống và làm tăng hiệu quả thanh nhiệt, giải độc, mát gan như hoa hòe với cúc hoa, đậu đen với mạch môn, nụ vối với la hán, râu ngô với quả dứa dại…, thậm chí có thể phối hợp khá nhiều vị với nhau để tạo nên các loại trà tam bảo, ngũ bảo, bát bảo rất hấp dẫn.

Theo quan niệm của y học cổ truyền, “nhiệt” là một trong những nguyên nhân gây bệnh thường gặp, nhiệt nặng hơn được gọi là “hỏa”. Nhiệt được tạo nên từ nhiều nguồn: từ ngoài là do ngoại tà xâm nhập bên trong cơ thể mà hóa sinh, đặc biệt là hai nhân tố thử và thấp thường gặp vào mùa hè. Tính chất của nhiệt là nóng bức, dễ gây hao tổn tân dịch và hình thể.

Tùy theo vị trí tác động mà nhiệt tạo nên các bệnh cảnh lâm sàng khác nhau: nhiệt tích ở da (bì phu) gây mụn nhọt, lở loét; nhiệt tích ở đường hô hấp (phế tạng) gây đau họng, viêm khí phế quản, viêm phổi…, nhiệt tích ở  đường tiêu hóa (tỳ, vị, đại tràng) gây tưa lưỡi, loét miệng, viêm dạ dày, loét hành tá tràng, táo bón, trĩ hạ…

Theo nghiên cứu hiện đại, các cây cỏ này đều có tác dụng giải nhiệt, kháng khuẩn, tiêu viêm ở các mức độ khác nhau. Mỗi loại có các tác dụng riêng biệt như nước hoa cúc làm hạ huyết áp, nước hoa hòe làm bền vững thành mạch máu, nước rau ngô và dứa dại lợi tiểu và làm tan sỏi đường tiết niệu, nước mạch môn, rau má và đậu đen bảo hộ tế bào gan, nước nụ vối kích thích tiêu hóa… Tuy nhiên, dù là thực phẩm đi nữa khi sử dụng các loại nước giải khát, thanh nhiệt này cũng cần phải chú ý một số vấn đề sau đây:

Trước hết, liều lượng cần vừa phải, tránh lạm dụng quá mức, đặc biệt đối với trẻ em, người già và những người tỳ vị hư yếu dễ bị lạnh bụng, đi lỏng. Nếu có dùng cam thảo để tạo nên vị ngọt, dễ uống thì tuyệt đối không dùng quá nhiều, thông thường mỗi ấm trà chỉ cho vài ba lát là được.

Sau những bữa ăn có nhiều đồ sống lạnh thì nên giảm lượng cấc loại nước uống này để tránh gây rối loạn tiêu hóa.

Khi chọn mua các cây cỏ này ở dạng khô thì phải tránh thứ bị ẩm mốc và đã để quá lâu. Tốt nhất là nên mua đồ tươi về nấu nước uống hoặc phơi sấy khô, bảo quản cẩn thận để dùng dần.

Không nên uống các loại nước này quá nhiều vào buổi tối.

Nguồn: dantri

Buổi sáng ăn loại củ này tốt như ‘thần dược’ ngừa ung thư, chữa nhiều bệnh nguy hiểm

Theo Đông y củ khoai lang có vị ngọt, tính bình, đi vào hai kinh tỳ và thận. Có tác dụng nhuận tràng, bổ hư tổn, ích khí lực, mạnh tỳ thận. Tác dụng bồi bổ cơ thể, ích khí, cường thân, kiện vị, tiêu viêm, thanh can, lợi mật, sáng mắt; chữa vàng da, ung nhọt, viêm tuyến vú, phụ nữ kinh nguyệt không đều (dùng trước kỳ kinh), nam giới di tinh, trẻ em cam tích, lỵ… Có công dụng để trị lỵ mới phát; đại tiện táo bón; di tinh, đái đục; phụ nữ kinh nguyệt không đều, loạn kỳ, máu xấu; cúm mùa hè, sốt nóng li bì, thân thể đau mỏi.Ăn khoai vào bữa sáng kèm theo sữa nguyên kem hoặc sữa chua, thêm chút hạt và rau xanh sẽ là bữa sáng đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.

Tác dụng tuyệt vời khi ăn khoai lang vào buổi sáng:

Ngăn ngừa ung thư

Khoai lang chứa nhiều beta carotene có khả năng giảm thiểu nguy cơ thiếu hụt vitamin A đồng thời tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, từ đó ngăn ngừa hiệu quả sự tấn công của các gốc tự do gây bệnh ung thư. Theo nhiều nghiên cứu, thường xuyên ăn khoai lang có thể giúp phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh chống lại căn bệnh ung thư vú.

 

Bệnh tiểu đường

Ăn khoai lang không làm chỉ số đường huyết tăng cao như bạn vẫn nghĩ. Nguyên nhân là do lượng carbohydrate lành mạnh có trong khoai lang sẽ góp phần điều chỉnh lượng đường trong máu.

Chính vì vậy, người mắc bệnh tiểu đường có thể dùng khoai lang để thay cơm, vừa giúp bổ sung đủ năng lượng cho cơ thể vừa giúp ổn định lượng đường trong máu.

Bệnh tim

Nhờ chứa nhiều vitamin B6 và kali mà khoai lang có tác dụng ngăn ngừa hiệu quả các cơn đau tim và đột quỵ. Kali là chất điện ly quan trọng có tác dụng kiểm soát nhịp tim và các tín hiệu thần kinh, đồng thời giúp duy trì sự hoạt động điều độ của các tế bào, huyết áp cùng một số chức năng liên quan đến tim mạch.

Thường xuyên bổ sung thực phẩm này vào bữa sáng sẽ giúp bảo vệ tim mạch và ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh tim.

Buổi sáng ăn loại củ này tốt như 'thần dược' ngừa ung thư, chữa nhiều bệnh nguy hiểm - 2
 

Những cách dùng khoai lang trị bệnh:

Chữa táo bón: ăn khoai luộc đơn thuần hoặc chấm mật, chấm vừng, ăn với cà pháo cả quả hoặc thái chỉ nghiền cùng khoai thành khối. Có thể uống nước luộc khoai (khoai phải rửa sạch). Hay nấu chè khoai tươi hoặc khô với vừng và ít hoa quế. Hoặc dùng nước cốt luộc khoai tươi hay khô đã giã nát, nếu bị trĩ thì uống hàng tháng nước cất này vào buổi sáng. Ăn bánh làm bằng khoai lang với vừng hoặc dừa. Khoai lang tươi xào dầu vừng. Canh rau lang. Rau lang luộc chấm nước mắm gừng tỏi hoặc nước sốt cà chua, chấm vừng lạc (giã nhỏ). Nên làm sẵn bột khoai khô với vừng tán mịn, quấy uống mỗi sáng với nước đường.

Phòng chống béo phì: ăn khoai và rau lang luộc. Hoặc ăn chế độ 1/2 gạo, 1/2 khoai riêng rẽ, hoặc độn với nhau nấu cơm, cháo, bánh…

Trị chứng biếng ăn ở trẻ: cho ăn dặm bằng bột khoai lang vàng đỏ quấy với bột, sữa.

Chữa cam tích trẻ em: lá khoai lang non 100g, màng mề gà 2g. Sắc uống hoặc quấy với bột sữa.

Trị thiếu sữa: lá khoai lang tươi non 250g, thịt lợn 200g thái chỉ. Xào chín mềm, thêm gia vị.

Viêm tuyến vú: khoai lang trắng gọt vỏ, giã nhuyễn đắp lên vú, có thể phối hợp với tỏi giã nhuyễn để đắp.

Thận âm hư, đau lưng mỏi gối: lá khoai lang tươi non 30g, mai rùa 30g, sắc kỹ lấy nước uống.

Chữa quáng gà: lá khoai lang non xào gan gà hoặc gan lợn.

Chữa viêm dạ dày thiểu toan: lấy nước cốt khoai lang sắc uống ngày 3 lần. Mỗi lần một chén, uống liền 3 tuần, nghỉ 1 tuần có thể uống tiếp.

Say tàu xe: củ khoai lang tươi nhai nuốt cả nước và bã.

Chữa ngộ độc sắn: khoai lang gọt vỏ giã nát thêm nước, vắt lấy nước cốt. Uống cách nhau 1/2 giờ.

 

Nguồn: 24h

Trà dược ngừa viêm khớp

Tiết trời mưa phùn gió bấc lạnh lẽo là điều kiện thuận lợi cho bệnh lý viêm khớp phát sinh và phát triển. Trong y học cổ truyền, các bệnh khớp nói chung đều thuộc phạm vi chứng tý, phát sinh do nhiều nguyên nhân, trong đó 4 nhân tố chính là phong, hàn, thấp và nhiệt. Về mùa lạnh, phong, hàn và thấp là 3 nhân tố chủ đạo mà cổ nhân thường gọi là chứng phong hàn thấp tý. Khi bị các chứng bệnh này, ngoài việc dùng các thuốc chống viêm, giảm đau và thực hành lý liệu pháp của y học hiện đại thì các biện pháp của y học cổ truyền như thuốc sắc, châm cứu xoa bóp, trà thuốc… cũng rất hiệu quả. Trong bài viết này xin được giới thiệu với độc giả một số công thức trà dược để phòng chống viêm khớp về mùa lạnh, có thể sử dụng để điều trị dự phòng, điều trị hỗ trợ các thuốc khác trong giai đoạn bệnh tái phát và điều trị duy trì khi bệnh đã ổn định.

Bài 1: Thổ ngưu tất (rễ cỏ xước) 30g, kê huyết đằng 30g. Hai vị tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày.Công dụng: thanh nhiệt khứ thấp, hoạt huyết thư cân, dùng cho bệnh viêm khớp có dấu hiệu sưng nóng. Trong bài, thổ ngưu tất vị đắng chua, tính bình, có công dụng hoạt huyết hoá ứ, trừ thấp lợi niệu, thanh nhiệt giải độc; kê huyết đằng vị đắng, tính ấm, có công dụng hoạt huyết bổ huyết, thư cân hoạt lạc.

Bài 2: Thổ phục linh 40g, uy linh tiên 30g, phòng kỷ 10g. Các vị tán vụn, mỗi ngày lấy 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: trừ thấp hoạt lạc, giải độc giảm đau, dùng cho bệnh viêm khớp có triệu chứng đau cố định, tại chỗ nề nhẹ. Trong bài, thổ phục linh vị ngọt, tính bình, có công dụng giải độc, trừ thấp, lợi quan tiết; uy linh tiên vị cay mặn, tính ấm, có công dụng trừ phong thấp, thông kinh lạc và giảm đau; phòng kỷ vị cay đắng, tính lạnh, có công dụng trừ phong thấp, lợi niệu giảm đau.

Bài 3: Sinh địa 50g, khương hoạt 30g, độc hoạt 30g, kê huyết đằng 40g, đương quy 30g, thiên ma 20g, ngưu tất 20g, tỳ giải 20g. Tất cả sấy khô tán vụn, mỗi ngày lấy 20 – 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày, người uống được rượu có thể pha thêm chút ít hoàng tửu thì càng tốt. Công dụng: khu phong trừ thấp, hoạt huyết giảm đau, dùng cho bệnh viêm khớp lâu ngày, khí huyết suy nhược, các khớp có biểu hiện viêm dính và biến dạng. Trong bài, sinh địa và đương quy có tác dụng tư âm bổ huyết; khương hoạt trừ phong thấp nửa trên, độc hoạt trừ phong thấp nửa dưới cơ thể; ngưu tất và kê huyết đằng hoạt huyết bổ thận; tỳ giải thải thấp qua đường tiết niệu.

Bài 4: Dâm dương hoắc 30g, uy linh tiên 30g, xuyên khung 30g, nhục quế 30g, ké đầu ngựa 30g. Tất cả tán vụn, mỗi ngày lấy 30 – 40g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 30 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày, có thể pha thêm một chút rượu thì càng tốt.

Bài 5: Hoàng kỳ 10g, quế chi 4,5g, bạch thược sao 7,5g, ngũ gia bì 6g, gừng tươi 2 lát. Các vị thái vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày.

 

Nguồn: suckhoedoisong

Thuốc và món ăn từ câu kỷ tử

Cây củ khởi cho 2 vị thuốc là câu kỷ tử và địa cốt bì. Câu kỷ tử là quả chín sấy khô; địa cốt bì là vỏ rễ phơi hay sấy khô.

Trong 100g quả chứa 3,1g protein, 1,9g lipid, 9,1g carbohydrat, 1,6g chất xơ; tinh dầu, sesquiterpen cùng các ester, các acid béo. Trong hạt chứa các chất sterol (gramisterol, citrostadiennol, lophenol, obtusifoliol…). Vỏ rễ chứa alcaloid (Kukoamin), õ-sitosterol và nhiều chất khác

Theo Đông y, câu kỷ tử vị ngọt, tính bình; vào kinh can và thận. Địa cốt bì vị ngọt, tính hàn; vào phế, can và thận. Câu kỷ tử có tác dụng tu dưỡng can thận, nhuận phế, ích tinh, minh mục. Trị các chứng can thận âm hư, đau đầu hoa mắt chóng mặt ù tai, thị lực giảm, đau lưng mỏi gối, suy nhược thần kinh, liệt dương di tinh, đái tháo đường, viêm gan mạn, vô sinh… Địa cốt bì có tác dụng lương huyết, thanh phế, giáng hỏa. Trị hư lao triều nhiệt, ra mồ hôi trộm, ho hen, nôn ra máu, tiểu ra máu, đái tháo đường, tăng huyết áp, mụn nhọt… Ngày dùng 6 – 15g.

thuoc-va-mon-an-tu-cau-ky-tu-1

Kỷ tử (quả khô của cây câu kỷ) trị đau đầu ù tai hoa mắt chóng mặt, đau lưng mỏi gối, giảm thị lực…

Câu kỷ tử được dùng làm thuốc trong các trường hợp

Tư thận, dục âm (bổ thận, nuôi dưỡng chân âm):

Hoàn câu kỷ: câu kỷ tử, hoàng tinh liều lượng bằng nhau tán thành bột mịn, luyện với mật làm hoàn. Ngày 2 lần, mỗi lần 12g, chiêu với nước nóng. Trị chứng thận hư tinh kém, lưng và xương sống đau buốt.

 

Dưỡng can, minh mục (nuôi can, làm sáng mắt):

Bài 1 – Kỷ cúc địa hoàng hoàn: câu kỷ tử 12g, cúc hoa 12g, thục địa 16g, đan bì 6g, sơn dược 8g, phục linh 8g, sơn thù 8g, trạch tả 8g. Các vị nghiền bột, luyện với mật làm hoàn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g, chiêu với nước muối loãng hoặc nước nóng. Trị các chứng can thận âm hư, sốt về chiều, mồ hôi trộm, hoa mắt, đau mắt khô rát.

Bài 2 – Rượu câu kỷ: câu kỷ tử ngâm trong rượu 5 – 7 ngày, chắt ra. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 – 2 thìa canh. Trị yếu gan sinh đau mắt, ra gió chảy nước mắt; bổ dưỡng, chống yếu mỏi cơ, làm đẹp da…

Món ăn thuốc có câu kỷ tử

Chim câu hầm hoàng kỳ kỷ tử: kỷ tử 30g, hoàng kỳ 60g, chim câu non 1 con. Chim câu làm sạch, cho hoàng kỳ, kỷ tử vào hầm cách thủy, thêm gia vị. Dùng cho người sa dạ dày, sa thận, sa trực tràng, sa tử cung.

Cháo kỷ tử: kỷ tử 30g, gạo tẻ 100g, đường trắng vừa đủ. Nấu cháo gạo tẻ và kỷ tử. Khi ăn, thêm đường. Dùng tốt cho người đau lưng, tê bại hai chân, đau đầu ù tai hoa mắt chóng mặt.

Cháo thận dê lá khởi: lá củ khởi 500g, thận dê 2 đôi, thịt dê 250g, gạo tẻ 250g, hành 5 củ. Thận dê và thịt dê làm sạch thái lát, lá củ khởi dùng vải xô gói lại. Tất cả cho trong nồi, đổ nước nấu cháo, cháo chín nhừ, thêm gia vị chia ăn trong ngày, ăn nóng. Thích hợp với người thận hư suy giảm tính dục, di tinh liệt dương, đau bại vùng thắt lưng, đau mỏi đầu gối.

Cháo địa cốt bì: địa cốt bì 30g, tang bạch bì 15g, mạch đông 15g, bột miến dong 100g. Các dược liệu sắc lấy nước, nấu hồ cháo với bột miến dong. Dùng tốt cho người đái tháo đường, khát nước uống nhiều, gầy yếu suy kiệt.

Rượu kỷ tử nhân sâm ngũ vị tử: kỷ tử 30g, nhân sâm 9g, ngũ vị tử 30g, rượu trắng 500ml. Các dược liệu ngâm trong rượu. Sau 7 ngày dùng được. Mỗi ngày uống 30 – 50ml, chia làm 1 hoặc 2 lần vào bữa ăn. Trị suy nhược thần kinh, thiếu máu, viêm gan mạn, thị lực giảm.

Kiêng kỵ: Người đang thực nhiệt (nhiễm khuẩn, viêm tấy), bị đàm thấp, tiêu chảy không dùng.

 

Nguồn: suckhoedoisong

Phương thức hay chữa trào ngược dạ dày – thực quản

Mức độ viêm thực quản phụ thuộc vào thời gian và tần suất tiếp xúc giữa các chất trào ngược với niêm mạc thực quản. Bệnh có nguy cơ gây ra những biến chứng nặng nề như loét, hẹp, chảy máu thực quản, thậm chí dẫn đến ung thư.

Trong Đông y, bệnh lý này thuộc phạm vi các chứng bệnh như “Ế cách”, “Hung thống”, “Thổ toan”… do nhiều nguyên nhân gây nên như rối loạn tình chí, ẩm thực bất điều, lao lực quá độ, cảm thụ ngoại tà… với cơ chế chủ yếu là do vị khí thượng nghịch, thăng giáng thất thường mà phát sinh ra các chứng trạng như ợ hơi, ợ chua, đau tức sau xương ức, viêm rát họng, nôn và buồn nôn.Về mặt trị liệu, Đông y có thể sử dụng các biện pháp như sau:

Dùng thuốc: Thường lựa chọn theo 3 phương thức: biện chứng luận trị (căn cứ theo thể bệnh mà lựa chọn bài thuốc), biện bệnh luận trị (xây dựng một bài thuốc dùng cho mọi thể bệnh) và sử dụng kinh nghiệm dân gian (đơn phương nghiệm phương). Cụ thể:

Biện chứng luận trị: Thông qua Tứ chẩn (vọng, văn, vấn, thiết) mà quy vào các thể bệnh và mỗi thể bệnh có phương pháp và bài thuốc phù hợp. Ví như với thể Can vị bất hòa phải sơ can hòa khí giáng nghịch, trọng dùng bài Tứ nghịch tán hợp Tiểu bán hạ thang gia giảm; với thể Can vị uất nhiệt phải sơ can tả nhiệt hòa vị, trọng dùng bài Đan chi tiêu dao tán gia giảm; với thể Đàm khí giao trở phải lý khí hóa đàm hòa sướng cách, trọng dùng bài Khải cách tán gia giảm; với thể Tỳ vị hư nhược phải kiện tỳ ích khí giáng nghịch, trọng dùng bài Hương sa lục quân tử thang gia giảm; với thể Khí hư huyết ứ phải ích khí kiện tỳ, hoạt huyết hóa ứ, trọng dùng bài Tứ quân tử thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm.

Biện bệnh luận trị: Thông qua cơ chế bệnh sinh và các chứng trạng cơ bản mà lựa chọn một bài thuốc có thể dùng cho tất cả các thể bệnh dưới các dạng thuốc khác nhau như thuốc thang sắc hay các đông dược thành phẩm (cao, đơn, hoàn, tán, viên nang, viên nén, trà tan, siro, thuốc nước đóng ống…). Có thể nói, hình thức này hiện nay đang rất phát triển, nhất là các đông dược thành phẩm được bào chế dưới dạng tân dược bởi tính phổ thông, dễ dùng, tiện bảo quản và vận chuyển. Tuy nhiên, tính “biện chứng” của chúng cũng là một vấn đề cần được xem xét và nghiên cứu.

Đơn phương nghiệm phương: Đây là một kho tàng hết sức phong phú, khó có thể kể hết với đặc diểm chung là đơn giản, dễ kiếm, dễ chế, tiện dùng và có hiệu quả ở các mức độ khác nhau. Có thể dùng 1 trong số các bài thuốc sau:

Bài 1:  Cây ngũ sắc 14g, xương bồ 16g, hoàng kỳ 16g; tía tô, bạch truật, sinh khương, trần bì, hoài sơn mỗi vị 8g; chỉ xác 6g, lá lốt 6g, biển đậu 6g, lá đắng 12g, đương quy 10g, sâm đại hành 10g, sắc uống 2 ngày/thang sau khi ăn.

Bài 2: khôi tía 16g; cỏ lào, loét mồm, tam thất nam mỗi vị 12g; khương hoàng 10g, cam thảo 10g, sắc uống 2 ngày/thang, mỗi ngày uống 2 lần trước khi ăn sáng và trước khi đi ngủ 30 phút.

Bài 3: hắc táo nhân 16g, phòng sâm 16g, bạc truật 12g, bán hạ chế 12g, viễn chi 10g, hoài sơn 10g, liên nhục 10g, ngưu tất 8g, chỉ xác 8g, trần bì 6g, cam thảo 4g. Tất cả đem sắc cùng với 1 lít nước, sắc cô cho đến khi còn một nửa là được, chia uống 3 lần trong ngày sau bữa ăn.

Bài 4: phòng sâm, cây ngũ sắc (sao vàng hạ thổ), bạch truật, hoài sơn, liên nhục, ngũ gia bì mỗi vị 16g, tía tô 20g, bán hạ 10g, cam thảo 10g, chỉ xác 8g, sinh khương 4g, bạch linh 12g, lá đinh lăng (sao thơm) 12g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, uống mỗi ngày 2 lần.

Bài 5: viễn chí, cam thảo, trần bì mỗi vị 12g; ngưu tất, hắc táo nhân, cát căn, hoài sơn, liên nhục mỗi vị 16g; chỉ xác 10g và bán hạ chế 10g. Sắc uống 2 ngày/thang, mỗi ngày uống 2 lần ngay khi còn ấm và uống trước bữa ăn.

Không dùng thuốc: Bao gồm nhiều biện pháp như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh, yoga, thiền, cân ma đạt kinh, thái cực quyền… Riêng châm cứu cũng rất nhiều phương thức như thể châm, điện châm, thủy châm, nhĩ châm, cấy chỉ cát gút, laser châm, từ châm… Ngoài ra, có thể chọn dùng các món dược thiện có công dụng bồi bổ tỳ vị, lý khí giáng nghịch hỗ trợ trị liệu trào ngược dạ dày thực quản rất dễ được cơ thể chấp nhận. Để trị liệu đạt hiệu quả cao và bền vững, Đông y thường phối hợp cả 2 biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc theo quan điểm chỉnh thể và toàn diện


ThS.BS. Hoàng Khánh Toàn

Nguồn: suckhoedoisong

Châm cứu điều trị được những bệnh gì?

Châm cứu đôi khi bị coi là ngụy khoa học và việc sử dụng nó trong y học hiện đại bị nhiều người chỉ trích. Song điều đó đã không ngăn Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) ban hành kế hoạch chi tiết vào tháng 5 năm 2017 cho các thầy thuốc nhằm cung cấp các dịch vụ an toàn và hợp pháp, cũng như để họ tìm kiếm tất cả các liệu pháp có sẵn.

Giữa cuộc khủng hoảng opioid, FDA đã đề xuất một liệu pháp thay thế để đối phó với đau. FDA khuyến nghị sử dụng kim dùng một lần và vô trùng để giảm nguy cơ tác dụng phụ từ kim không vô trùng.

Đối với những người tin rằng y học cổ truyền không phát triển trong suốt hơn 2.500 năm qua, thì đây là một vài nghiên cứu cho thấy lợi ích sức khỏe của điều trị châm cứu, mặc dù vẫn cần phải nghiên cứu thêm.

Giảm đau và giảm cường độ của đau nửa đầu

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Munich đã tiến hành hơn 11 nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa điều trị châm cứu và giảm đau đầu mãn tính. Các thử nghiệm lâm sàng dựa trên các nhóm đối chứng sử dụng châm cứu giả so với điều trị thực mà không kèm thêm bất kỳ loại thuốc điều trị đau nửa đầu nào khác đã được nghiên cứu.

Trong một nghiên cứu, những người tham gia được chia thành hai nhóm điều trị bằng kim châm ngẫu nhiên và kim châm vào những vị trí cụ thể. Đáng buồn là không có cải thiện chứng đau nửa đầu cho cả hai nhóm. Nhóm đối chứng được điều trị bằng châm cứu thực sự đã giảm đáng kể đau và cường độ đau ở vòng theo dõi, mặc dù không thấy ở vòng đầu tiên.

Giảm đau mãn tính

Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Y tế Đại học Berlin đã nhận xét trong một nghiên cứu năm 2006 rằng bệnh nhân được điều trị châm cứu tốt hơn so với bệnh nhân không được chăm sóc châm cứu trong hơn 8 tuần, đặc biệt là về đau lưng.

Một nghiên cứu khác xem xét các thử nghiệm lâm sàng trên 17.000 bệnh nhân bị các loại đau mãn tính khác nhau như đau vai gáy, viêm khớp, đau đầu và đau vai. Nghiên cứu năm 2012 được thực hiện bởi Phòng Dịch tễ và thống kê sinh tưởng nhớ Sloan-Kettering đã kết luận rằng đó là một lựa chọn tham chiếu hợp lý cho các bác sĩ” sau khi nghiên cứu tác động trên cả nhóm giả dược và không giả dược.

Điều trị mất ngủ

Châm cứu được sử dụng rất thường xuyên ở Trung Quốc để điều trị mất ngủ. Các nhà nghiên cứu từ Trung Quốc đã rà soát các cơ sở dữ liệu và nghiên cứu quan trọng của Trung Quốc như Cơ sở dữ liệu Tạp chí Khoa học Trung Quốc và Cơ sở dữ liệu Wan Fang vào năm 2008. Sau khi sàng lọc 46 thử nghiệm và nghiên cứu các báo cáo của 3.811 bệnh nhân, trong đó có 2.882 người bị mất ngủ nguyên phát, trong khi số còn lại bị trầm cảm, tâm thần phân liệt, nghiện ma túy và bệnh thận.

Các nhóm đối chứng rất đa dạng, có thể là đang dùng thuốc thảo dược, hoặc điều trị bằng châm cứu giả và châm cứu không giả trong các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên. Đôi khi, các nhóm đối chứng bao gồm những người đã dùng các thuốc khác để điều trị mất ngủ và những người không dùng bất kỳ loại thuốc nào. Tất cả các khả năng đều được trình bày bởi nhiều nghiên cứu.

Kết quả cuối cùng theo phân tích của Huijuan Cao, Xing Phường Pan, Hua Li và Jianping Liu kết luận rằng châm cứu có vẻ làm giảm mất ngủ, nhưng cần nghiên cứu thêm.

Sử dụng trong điều trị ung thư để bổ sung hóa trị

Châm cứu được khuyến cáo như là một liệu pháp bổ sung khi kiểm soát kém buồn nôn và nôn do hóa trị.

Năm 1997, Viện Y tế Quốc gia Mỹ đã đưa ra một tuyên bố tương tự dựa trên 27 thử nghiệm có đối chứng cho thấy kết quả thuận lợi đối với châm cứu bổ sung trong điều trị buồn non do hóa trị.

 

Nguồn: dantri

Ngoại Khoa Y Học Cổ Truyền

Cuốn Ngoại khoa y học cổ truyền đã được xuất bản lần thứ nhất năm 2002 và đã được tái bản có chỉnh sửa và bổ sung lần thứ hai năm 2006, do hai tác giả PGS. TS. Phạm Văn Trịnh và TS. Lê Lương Đông, là những giảng viên chính chuyên sâu về chuyên ngành này trong Khoa Y học cổ truyền – Trường Đại học Y Hà Nội biên soạn chỉnh lý. Ngoại khoa Y học cô truyền nhằm đáp ứng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và các học viên sau đại học của khoa, cũng như làm tài liệu tham khảo cho các bạn đồng nghiệp quan tâm tới lĩnh vực ngoại khoa y học cổ truyền.

Chúng tôi đánh giá đây là một cuốn sách có giá trị học tập và tham khảo cho các sinh viên, học viên và các bạn đồng nghiệp thuộc chuyên ngành y học cổ truyền. Chúng tôi xin giới thiệu với các bạn đọc cuốn sách Ngoại khoa y học cô truyền với tấm lòng trân trọng.

link

[lockercat][/lockercat]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

999 Bài Thuốc Dân Gian Gia Truyền

Cuốn sách có nội dung phong phú, đơn giản, dễ hiểu, tính thực dụng rất cao. Sách đề cập đến cách ǎn uống hàng ngày sao cho có tác dụng đến việc phòng bệnh, chữa bệnh, bồi dưỡng sức khoẻ, chống lão hoá, giúp con người tươi trẻ mãi. Những bài thuốc đồng thời cũng là những món ǎn thường ngày đem lại nhiều tiện lợi.

Nội dung sách gồm 3 phần:

– Phần 1: gồm 200 bài thuốc đơn giản rút ra từ kinh nghiệm dân gian để phòng và chữa bệnh.

– Phần 2: tập hợp 399 món ǎn bài thuốc nên ǎn, nên kiêng để chữa bệnh và bồi dưỡng cơ thể

– Phần 3: là 400 bài thuốc bổ, quý thuộc các loại thức ǎn bổ, thuốc bổ, giúp cơ thể khoẻ mạnh, cường tráng kéo dài tuổi thọ.

[lockercat][/lockercat]

 

 

 

 

 

 

Sổ Tay Y Học Cổ Truyền – ĐH Y Hà Nội

Căn cứ mục đích và yêu cầu đào tạo của Bộ Y Tế, chúng tôi biên soạn tập tài liệu y học cổ truyền với mục đích giúp cho các sinh viên y khoa có tài liệu tham khảo và học tập về y học dân tộc cổ truyền theo chương trình cải cách.

Nội dung tài liệu gồm 5 phần:
Phần I: Tình hình y học cổ truyền; chủ trương kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền của dân tộc và những biện pháp tiến hành để xây dựng nền y học Việt Nam của Đảng và Nhà nước.
Phần II: Khái niệm về lý luận y học cổ truyền.
Phần III: Các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc: châm cứu, xoa bóp và một số cách châm khác
Phần IV: Thuốc nam và một số bài thuốc nam thường dùng
Phần V: Áp dụng châm cứu và thuốc nam để chữa một số chứng bệnh hay gặp

 

BÀI GIẢNG Y HỌC CỔ TRUYỀN TẬP I – PDF

BÀI GIẢNG Y HỌC CỔ TRUYỀN – TẬP I

ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NXB: Y HỌC

BIÊN SOẠN:

GS. TRẦN THÚY

PGS. PHẠM DUY NHẠC

GS. HOÀNG BẢO CHÂU

Nội dung tài liệu được chia làm hai phần: phần cơ sở và phần bệnh học.

Phần cơ sở gồm sơ lược về lịch sử phát triển của nền y học cổ truyền dân tộc, xây dựng nền y học Việt Nam của Đảng và Chính phủ, lý luận cơ bản của nền y học cổ truyền…

Phần bệnh học bao gồm nội học ngoại khoa, nội học nhi khoa, bệnh học phụ khoa, bệnh học ngoại khoa…

 

Bài giảng chia thành 3 phần và chia thành nhiều chương khác nha

Phần thứ nhất: lý luận cơ bản về y học cổ truyền

Phần thứ hai: các vị thuốc y học cổ truyền

Phần thứ ba: các bài thuốc y học cổ truyền

Dowload tài liệu:

[lockercat][/lockercat]